PDA

View Full Version : Cứ cầm đi, rồi tôi sẽ trả


yourdalink
28-02-2008, 11:09 PM
Đây là một câu chuyện nhẹ nhàng, lôi cuốn. Có đâu đó một chút "Magi" của cụ O' Henry (viết đúng ko nhỉ? :D). Thế thôi.
Có nhiều lỗi khá thô thiển, nhưng mà bản tính tớ vốn lười và dễ dãi, nên có gì mọi người comment hộ ở dưới nhé :D Chứ tớ ngại đọc lại lắm :D

Bản tiếng Anh: What you pawn, I will redeem (by Sherman Alexie - the New Yorker).

For Begi, with love!

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Cứ cầm đi, tôi sẽ chuộc lại

Tác giả: Sherman Alexie


Buổi trưa

Ngày hôm nay ta có nhà, ngày mai thì không, nhưng tôi không định kể cho quý vị độc giả nghe về những lý do nào đó khiến tôi trở thành một kẻ vô gia cư, bởi đó là câu chuyện bí mật của riêng tôi, và người da đỏ luôn phải cố gắng để giữ bí mật đối với những đồng loại da trắng.

Tôi là một chàng trai da đỏ ở Spokane (1), người Salish nội địa (2), và dân tộc tôi đã sống ở khu vực Spokane với bán kính một trăm dặm quanh Washington, ít nhất là mười ngàn năm rồi. Tôi lớn lên ở Spokane, chuyển tới học chuyên nghiệp tại Seattle hai mươi ba năm trước, bị loại khỏi trường sau hai kì học, làm hàng đống những công việc cổ xanh và cổ xanh hơn nữa (3), cưới vợ hai hoặc ba lần, làm bố của hai hoặc ba đứa trẻ, và bây giờ phát điên. Tất nhiên, điên không phải từ chuyên ngành cho vấn đề tinh thần của tôi, nhưng tôi cũng không nghĩ rằng “rối loạn phi xã hội” thích hợp với tình trạng của tôi, bởi điều đó sẽ khiến tôi giống như một kẻ giết người hàng loạt hay gì đó tương tự. Tôi chưa từng làm ai bị thương cả; hoặc, ít nhất là về mặt thể xác. Tôi đã từng làm tan vỡ vài trái tim, nhưng chúng ta ai chả vậy, vì thế xét về khía cạnh này tôi chả có gì đặc biệt cả. Tôi cũng là một kẻ bạc tình tẻ nhạt. Tôi không hẹn hò hay cưới hơn một người phụ nữ cùng một thời điểm. Tôi không làm những trái tim tan thành từng mảnh sau chỉ một đêm. Tôi làm chúng ta vỡ một cách chậm rãi và cẩn thận. Tôi cũng chẳng bỏ đi một cách vội vàng. Từng tí một, tôi biến mất. Tôi luôn đang biến mất, dần dần.

Tôi vô gia cư đã sáu năm nay. Nếu tồn tại một cái gì đó kiểu như một gã đàn ông vô gia cư hiệu quả, thì tôi tin rằng tôi thật sự hiệu quả. Vô gia cư có lẽ là điều duy nhất tôi giỏi. Tôi biết chỗ nào có thức ăn miễn phí tốt nhất. Tôi làm bạn với những tay quản lý nhà hàng hoặc cửa hàng nhỏ - những người luôn cho tôi dùng nhà vệ sinh của họ. Và tất nhiên tôi không nói tới nhà vệ sinh công cộng. Ý của tôi là những nhà vệ sinh sạch sẽ của nhân viên ẩn sau những bếp ăn, tủ bát hay máy làm lạnh. Tôi biết, thật lạ lùng khi tự hào về điều đó, nhưng nó lại rất có ý nghĩa đối với tôi, được tin tưởng đủ để đi tè trong nhà vệ sinh sạch sẽ của người khác. Có thể quý vị không hiểu giá trị của một phòng tắm sạch sẽ, nhưng tôi hiểu.

Có thể những điều kể trên không hấp dẫn quý độc giả. Người da đổ vô gia cư ở khắp nơi tại Seattle. Chúng tôi bình thường và tẻ nhạt, và quý vị đi ngang qua chúng tôi, có thể với một cái nhìn giận dữ hoặc khó chịu hay thậm chí là buồn cho những số phận khổ sở của một sự hoang dã đầy quý phái. Nhưng chúng tôi có gia đình và những giấc mơ. Tôi là bạn của một người đàn ông da đỏ vùng Đồng Bằng (4) – con ông ta là một biên tập viên của một tạp chí lớn ở miền Đông. Tất nhiên, đó là câu chuyện của ông ta, những người da đỏ chúng tôi chúa là hay kể chuyện, nói dối và tạo ra bí ẩn rất siêu, có thể gã ma cà bông da đỏ Đồng Bằng đó chỉ là một người da đỏ bình thường mà thôi. Tôi hơi nghi ngờ ông ta, bởi ông ta chỉ nói là người da đỏ Đồng Bằng, một thuật ngữ về sinh học, chứ không phải một bộ lạc cụ thể nào cả. Khi tôi hỏi tại sao ông ta không nói cho tôi biết chính xác ông ta thuộc bộ lạc nào, ông ấy nói, “Có ai trong số chúng ta biết chính xác ta là ai không?” Đúng, tuyệt, một nhà triết gia da đỏ. “Này,” tôi nói, “ông phải có gia đình để thuộc về gia đình đó.” Ông ta chỉ cười, đẩy tôi ra rồi đi thẳng.

Tôi đi dạo trên phố với đội của mình – những người cùng nhóm, những người bảo vệ tôi, băng của tôi. Đó là Hoa Hồng của Sharon, Thằng Nhỏ, và tôi. Chúng tôi cùng hội với nhau nếu chúng tôi không cặp với ai khác. Hoa Hồng của Sharon là một phụ nữ to lớn, cao khoảng bảy feet nếu ta tính “sự ảnh hưởng tổng thể” (5) và khoảng năm feet nếu ta chỉ đơn giản là nói tới chiều cao thực tế. Cô ta là một người da đỏ Yakama (6) thuộc nhóm Wishram. Thằng Nhỏ là người Colville, nhưng có khoảng một trăm chín chín bộ lạc tạo thành nhóm Colville (7), vì thế hắn có thể thuộc bất kì nhóm nào. Hắn ta rất đẹp trai, mặc dù, như chỉ vừa bước ra khỏi những tấm quảng cáo “Đừng vứt rác bừa bãi”. Xương gò má to như những hành tinh, quý vị biết đấy, với những mặt trăng nhỏ quay xung quanh. Hắn ta làm tôi ghen tị, ghen tị và ghen tị. Nếu quý vị để Thằng Nhỏ và tôi ngồi cạnh nhau, hắn hẳn là “người da đỏ thời trước khi Columbus tới” và tôi là “người da đỏ thời hậu Columbus”. Tôi là một bằng chứng sống về sự huỷ hoại đáng sợ mà chủ nghĩa thực dân đã gây ra đối với chúng tôi. Nhưng tôi không định cho quý vị biết về nỗi sợ của tôi về lịch sử. Tôi là một người đàn ông mạnh mẽ, và tôi biết rằng yên lặng là phương thức tốt nhất khi thảo luận với những đồng loại da trắng.

Câu chuyện thật sự bắt đầu vào giờ ăn trưa, khi Hoa Hồng của Sharon, Thằng Nhỏ và tôi rửa một cái tay cầm tại chợ Pike Place. Sau khoảng hai giờ thương thuyết, chúng tôi kiếm được năm đô – đủ cho một chai rượu vang bổ ở một cửa hàng 7-Eleven đẹp nhất thế giới. Vì thế chúng tôi đi về phía đó, có cảm giác như những gã say rượu, và đi ngang qua một cửa hiệu cầm đồ. Trước đây tôi chưa hề chú ý tới nó. Điều đó thật là lạ bởi chúng tôi – những người da đỏ có một khả năng thiên bẩm là tìm hiệu cầm đồ. Nhưng điều lạ lùng nhất là một bộ lễ phục mặc để nhảy trong các buổi tế lễ tôi thấy treo trên cửa sổ.

“Đó là lễ phục của bà tôi,” tôi nói với Hoa Hồng của Sharon và Thằng Nhỏ.

“Sao mày lại chắc chắn như thế?” Thằng Nhỏ hỏi.

Tôi không dám chắc, bởi tôi chưa thấy bà mặc bộ lễ phục đó bao giờ. Tôi chỉ nhìn những bức ảnh bà đang nhảy khi mặc nó. Và nó đã bị ai đó ăn cắp, năm mươi năm về trước. Nhưng nó rất giống với trí nhớ của tôi, và đường viền cũng như màu lông đều giống với các bộ lễ phục khác của gia đình tôi.

“Chỉ có một cách duy nhất để biết điều đó,” tôi nói.

Vì thế Hoa Hồng của Sharon, Thằng Nhỏ và tôi bước vào hiệu cầm đồ và chào một ông lão da trắng đang làm việc sau bàn tính.

“Tôi có thể giúp gì cho anh?” ông ta hỏi.

“Bộ lễ phục trên cửa sổ kia là của bà tôi,” Tôi nói. “Ai đó đã lấy cắp của bà năm mươi năm trước, và gia đình tôi luôn đi tìm nó.”

Ông chủ hiệu cầm đồ nhìn tôi như thể tôi là một kẻ nói dối. Tôi hiểu. Các hiệu cầm đồ rặt những tên dối trá.

“Tôi không nói dối,” tôi bảo ông ta. “Hãy hỏi những người bạn của tôi. Họ sẽ nói cho ông biết.”

“Anh ta là người da đỏ trung thực nhất mà tôi biết,” Hoa Hồng của Sharon nói.

“Được thôi, người da đỏ trung thực,” người chủ hiệu nói. “Tôi có quyền được nghi ngờ chứ. Anh có thể chứng minh đây là lễ phục của bà anh không?”

Bởi chúng tôi không muốn hoàn hảo, bởi chỉ có Chúa Trời là hoàn hảo, người da đỏ chúng tôi thường khâu vài đường lỗi trên những lễ phục. Gia đình tôi thường khâu một đường vàng cam ở đâu đó trên lễ phục. Nhưng chúng tôi thường dấu kín nên ta phải tìm rất kỹ mới thấy được.

“Nếu đó thật sự là của bà tôi,” tôi nói, “phải có một đường chỉ vàng được dấu kín đâu đó.”

“Được thôi, vậy thì…” người chủ hiệu nói, “chúng ta thử tìm xem.”

Ông ta lấy bộ lễ phục xuống khỏi cửa sổ, đặt nó lên mặt kính, và chúng tôi tìm đường chỉ vàng đó và đã thấy ở dưới nách áo.

“Đây rồi,” ông ta nói. Ông ta không có vẻ ngạc nhiên. “Anh nói đúng. Đây là bộ lễ phục của bà anh.”

“Nó đã bị mất năm mười năm rồi,” Thằng Nhỏ nói.

“Này, Thằng Nhỏ,” tôi nói. “Đây là câu chuyện của gia đình tao. Hãy để tao kể.”

“Được thôi,” Hắn nói. “Tao xin lỗi. Mày kể đi.”

“Nó đã bị mất năm mười năm rồi,” tôi nói.

“Câu chuyện của gia đình anh ấy thật buồn,” Hoa Hồng của Sharon nói.

“Ông sẽ trả lại cho anh ấy chứ?”

“Đó là điều đúng đắn nên làm,” người chủ hiệu nói. “Nhưng tôi không đủ khả năng để làm điều đúng. Tôi đã trả một ngàn đô để mua nó. Tôi không thể đơn giản cho đi một ngàn đô.”

“Chúng tôi sẽ tới chỗ cớm và nói rằng nó bị mất cắp,” Hoa Hồng của Sharon nói.

“Này,” tôi nói với cô ta. "Đừng có dọa mọi người."

Người chủ hiệu thở dài. Ông ta đang nghĩ tới các khả năng có thể xảy ra.

"Tôi tin là anh có thể tới chỗ cớm," ông ta nói. "Nhưng tôi không nghĩ là họ sẽ tin anh dù chỉ một từ."

Ông ta có vẻ buồn vì chuyện đó. Như thể ông ta rất tiếc vì được lợi dựa trên sự bất lợi của chúng tôi.

"Anh tên gì?" ông ta hỏi tôi.

"Jackson," tôi nói.

"Đó là tên hay họ?"

"Cả hai," tôi nói.

"Anh không đùa chứ?"

"Không. Đúng là vậy. Mẹ tôi và bố tôi đặt tên tôi là Jackson Jackson. Biệt hiệu của gia đình tôi là Jackson Vuông. Gia đình tôi rất buồn cười."

"Được rồi, Jackson Jackson," ông ta nói. "Anh không tình cờ có một ngàn đô, phải không?"

"Chúng tôi có tất cả năm đô," tôi nói.

"Quá tệ," ông ta nói, và nghĩ rất lâu về các khả năng. "Tôi sẽ bán cho anh với giá một ngàn đô nếu anh có. Chết tiệt, để công bằng, tôi sẽ bán cho anh với giá chín trăm chín mươi chín đô-la. Tôi sẽ mất một đô. Đó là điều đạo đức nên làm trong trường hợp này. Mất một đô để làm một điều đúng."

"Chúng tôi chỉ có tổng cộng năm đô," Tôi nói lại.

"Quá tệ," ông ta nhắc lại, và nghĩ lâu hơn. "Thế này nhé? Tôi sẽ cho anh hai mươi bốn giờ để chuẩn bị chín trăm chín chín đô-la. Anh quay lại đây vào trưa mai với tiền và tôi sẽ bán nó cho anh. Anh thấy thế nào?"

"Được đấy," tôi nói.

"Được rồi, và," ông ta nói. "Chúng ta thống nhất thế. Và tôi sẽ cho anh ít vốn. Đây là hai mươi đô."

Ông ta mở ví lấy ra một tờ giấy bạc hai mươi đô xoăn tít và đưa cho tôi. Và Hoa Hồng của Sharon, Thằng Nhỏ và tôi bước đi dưới nắng mặt trời để tìm kiếm chín trăm bảy tư đô còn thiếu.

1 giờ chiều

Hoa Hồng của Sharon, Thằng Nhỏ và tôi cầm tờ hai mươi đô và năm đô tới cửa hàng 7-Eleven và mua ba chai của "sự tưởng tượng." Chúng tôi cần phải tìm ra cách kiếm đủ số tiền đó trong vẻn vẹn một ngày. Nghĩ rất căng, chúng tôi họp kín ở một ngách nhỏ dưới cầu đường bộ Alaska và uống hết ba chai - một, hai, và ba.

2 giờ chiều

Hoa Hồng của Sharon đã đi khi tôi tỉnh dậy. Sau này tôi nghe rằng cô ấy đã đi nhờ xe xuống Toppenish và sống với chị gái ở vùng đất riêng.
Thằng Nhỏ nằm ngay bên cạnh tôi và dính đầy nôn mửa của hắn, cũng có thể là của ai khác, và đầu tôi rối tung, vì vậy tôi để hắn ta lại một mình và đi xuống bãi biển. Tôi thích mùi nước biển. Muối có mùi giống như kỷ niệm.

Khi tôi tới cầu tàu, tôi gặp ba người anh em Aleut đang ngồi trên một cái ghế gỗ và nhìn ra vịnh mà khóc. Hầu hết những người da đỏ vô gia cư tại Seattle tới từ Alaska. Từng người một, họ hi vọng gặp một tàu lớn đang đánh cá ở vùng Anchorage hay Barrow hay Juneau, lên đó đánh cá thuê rồi về phía nam tới Seattle, nhảy khỏi tàu với một đống tiền trong túi để tiệc tùng trong những quán ba Da Đỏ truyền thống mà đáng sợ, dần trở nên khánh kiệt, và luôn cố để quay lại tàu trở về vùng phía bắc quanh năm tuyết phủ.

Tôi nghĩ rằng những người Aleut này có mùi giống như cá hồi, và họ nói với tôi rằng họ sẽ ngồi ở cái ghế gỗ này cho tới khi tàu của họ quay lại.

"Tàu các anh đi lâu chưa?" tôi hỏi.

"Mười một năm rồi," người lớn tuổi nhất trả lời.

Tôi khóc với họ một lúc.

"Này," tôi nói. "Các anh còn tiền không cho tôi vay?"

Họ không có.

3 giờ chiều

Tôi quay lại chỗ Thằng Nhỏ. Hắn ta vẫn bị cảm. Tôi cúi sát mặt gần miệng hắn để chắc rằng hắn vẫn thở. Hắn còn sống, vì thế tôi lục túi quần bò của hắn và thấy nửa điếu thuốc. Tôi hút lấy hút để và nghĩ về bà tôi.

Bà tên là Agnes, và bà đã chết vì ung thư vú khi tôi mười bốn. Bố tôi luôn nghĩ rằng Agnes có khối u đó vì một mỏ uranium ở khu tự trị. Nhưng mẹ nói rằng căn bệnh bắt đầu khi Agnes về nhà sau một buổi lễ và bị một chiếc xe máy tông phải. Bà bị gẫy ba cái xương sườn, và mẹ tôi luôn nói rằng những cái xương sườn đã không được bó đúng cách, và khối u xuất hiện khi ta không bó đúng cách.

Ngồi bên cạnh Thằng Nhỏ, nghỉ mùi thuốc, mùi muốn và mùi chất nôn, tôi tự hỏi có phải bệnh ung thư của bà bắt đầu khi ai đó ăn cắp bộ lễ phục. Có thể ung thư xuất hiện đầu tiên ở trái tim tan vỡ và sau đó lan ra tới vùng ngực. Tôi biết điều đó thật điên rồ, nhưng tôi nghĩ thầm liệu tôi có thể làm bà sống lại nếu tôi mua được bộ lễ phụ đó.

Tôi cần tiền, rất nhiều tiền, vì thế tôi bỏ lại Thằng Nhỏ và đi tới văn phòng Thay Đổi Thật Sự.

4 giờ chiều

Sự Thay Đổi Thật Sự là một tổ chức đa chức năng xuất bản một tờ báo, hỗ trợ những dự án văn hóa hướng tới người nghèo và người vô gia cư, và thu hút sự chú ý của công chúng tới vấn đề đói nghèo. Sứ mệnh của Sự Thay Đổi Thật Sự là tổ chức, giáo dục và xây dựng liên minh để kiến thiết những giải pháp cho vấn đề vô gia cư và đói nghèo. Tổ chức tồn tại để đem lại tiếng nói cho người nghèo trong cộng đồng.

Tôi nhớ khẩu hiệu của Sự Thay Đổi Thật Sự bởi tôi thỉnh thoảng cũng bán báo trên những con phố. Nhưng ta phải ở trong trạng thái tỉnh táo khi bán báo, mà tôi thì luôn không giỏi trong việc giữ mình tỉnh táo. Ai cũng có thể bán báo. Ta mua mỗi tờ báo với giá ba mươi cent và bán đi với giá một đô la, và ta được giữ lại phần lãi.

"Tôi cần một ngàn bốn trăm ba mươi tờ," tôi nói với Sếp Lớn.

"Đó là một con số lạ," ông ta nói, "và là rất nhiều báo."

"Tôi cần chúng."

Sếp lớn lôi máy tính ra và bấm.

"Anh cần bốn trăm hai mươi chín đô cho từng đó báo," ông ta nói.

"Nếu tôi có từng đó tiền, tôi không cần phải đi bán báo."

"Điều gì thế này, Jackson Sức Mạnh Tiềm Ẩn?" ông ta hỏi. Ông ta là người duy nhất gọi tôi như vậy. Ông ấy rất buồn cười và là người tốt.

Tôi kể với ông ta về bộ lễ phục của bà tôi và số tiền tôi cần có để mua lại nó.

"Chúng ta có thể gọi cảnh sát," ông ta nói.

"Tôi không muốn như vậy," tôi nói. "Bây giờ nó là một cuộc chơi. Tôi muốn lấy lại nó bằng sức của mình."

"Tôi hiểu," ông ta nói. "Và, thành thật mà nói, tôi có thể đưa số báo đó cho anh nếu tôi nghĩ nó hiệu quả. Nhưng số báo lớn nhất bán ra một ngày bởi một người chỉ là ba trăm lẻ hai."

"Khoảng hai trăm đô," tôi nói.

Sếp Lớn bấm máy tính. "Hai trăm mười một đô bốn mươi cent," ông ta nói.

"Như thế là không đủ," tôi nói.

"Và số tiền lớn nhất mà một người kiếm được trong một ngày là năm trăm hai mươi lăm đô. Bởi ai đó đã cho Xanh Da Trời Già tờ năm trăm đô vì một lí do chết tiệt nào đó. Trung bình một người chỉ kiếm được khoảng ba mươi đô."

"Không được rồi."

"Ừ."

"Ông có thể cho tôi vay không?"

"Tôi không thể làm như vậy," ông ấy nói. "Nếu tôi cho anh vay, tôi phải cho tất cả mọi người vay."

"Ông có thể làm gì?"

"Tôi sẽ cho anh năm mươi tờ miễn phí. Nhưng đừng kể với ai nhé."

"O.K.," tôi nói.

Ông ta nhặt báo và đưa cho tôi. Tôi ôm lấy đống báo. Ông ta ôm tôi. Tôi mang đống báo đi về bến cảng.

5 giờ chiều

Quay lại cầu cảng, tôi ngồi gần bến phà lên đảo Cầu Bain và cố bán báo cho những người đi làm qua phà.

Trong một giờ tôi bán được năm tờ, vứt bốn mười nhăm tờ còn lại vào thùng rác, và tới hiệu McDonald, gọi bốn bánh hăm-bơ-gơ pho-mát với giá một đô một chiếc, rồi từ từ ăn.

Ăn xong, tôi đi ra ngoài và bị nôn ở vỉa hè. Tôi rất ghét bị mất thức ăn ngay khi vừa ăn xong. Như mọi gã da đỏ say rượu với dạ dày đầy ứ, tôi luôn hi vọng sẽ giữ đủ thức ăn để còn sống.

6 giờ chiều

Còn một đô trong túi, tôi quay lại chỗ Thằng Nhỏ. Hắn vẫn nằm đó, và tôi ghé tai sát ngực để nghe nhịp tim. Hắn vẫn sống, vì thế tôi cởi giày và tất của hắn ra và thấy một đô ở tất trái và năm mươi cent ở tất phải.

Với hai đô năm mươi cent trong tay, tôi ngồi cạnh Thằng Nhỏ và nghĩ về bà tôi và những câu chuyện của bà.

Khi tôi mười ba, bà tôi đã kể cho tôi nghe câu chuyện về chiến tranh thế giới thứ hai. Bà là y tá trong một bệnh viện quân đội ở Sydney, Australia. Trong suốt hai năm, bà đã chăm sóc và chữa trị cho những người lính Mỹ và Úc.

Một ngày, bà tới chỗ một người lính Maori bị thương, ông ấy đã mất đôi chân của mình trong một trận pháo kích. Ông ta có nước da rất thẫm. Tóc quăn màu đen, đôi mắt đen và ấm. Khuôn mặt có vài vết săm.

"Cô là người anh Maori à?" ông ta hỏi bà tôi.

"Không," bà nói. "Tôi là người da đỏ Spokane. Từ Mỹ tới."

"À," ông ấy nói. "Tôi có nghe về những bộ lạc của cô. Nhưng cô là người da đỏ đầu tiên tôi gặp."

"Có rất nhiều người lĩnh da đỏ chiến đấu cho nước Mỹ," bà nói. "Tôi có một người anh đang chiến đấu ở Đức, và một người đã mất ở Okinawa."

"Tôi rất lấy làm tiếc," ông ta nói. "Tôi cũng từng ở Okinawa. Thật kinh khủng."

"Tôi rất tiếc vì đôi chân của anh," bà nói.

"Thật buồn cười, phải không?" ông ta nói.

"Cái gì buồn cười cơ?"

"Tại sao người da màu chúng ta giết những người da màu khác để những người da trắng được tự do."

"Tôi không bao giờ nghĩ theo hướng đó."

"Ừm, đôi khi tôi nghĩ như vậy. Khi khác thì tôi nghĩ theo cách mà người ta muốn tôi nghĩ. Tôi thấy rối tung lên."

Bà tôi cho ông ta dùng morphine.

"Cô có tin ở Thiên Đàng không?" ông ta hỏi.

"Thiên Đàng nào?" bà hỏi.

"Tôi đang nói về thiên đàng nơi đôi chân của tôi đang đợi tôi."

Họ cười.

"Tất nhiên là vậy," ông ta nói, "đôi chân của tôi có thể bỏ chạy khi tôi tới thiên đàng. Làm thể nào tôi đuổi kịp chúng đây?"

"Anh phải tập tay cho khỏe," bà tôi nói. "Như thế anh có thể chạy bằng tay."

Họ lại cười.

Ngồi bên cạnh Thẳng Nhỏ, tôi cười khi nghĩ về câu chuyện của bà. Tôi đặt tay lên miệng Thằng Nhỏ để chắc rằng nó còn thở. Vâng, nó vẫn sống, nên tôi lấy hai đô năm mươi cent và đi tới cửa hàng rau quả Hàn Quốc ở quảng trường Người Tiên Phong.

7 giờ tối

Tại cửa hàng rau quả Hàn Quốc, tôi mua một điếu xì-gà năm mươi cent và hai tấm vé số cào giá một đô một vé. Giải lớn nhất cho một vé là năm trăm đô la. Nếu tôi thắng cả hai tấm, tôi sẽ có đủ tiền để mua lại bộ lễ phục.

Tôi yêu Mary, cô gái Hà Quốc trẻ làm ở bàn tính tiền. Cô là con gái của người chủ cửa hàng, và cô ấy hát cả ngày.

"Anh yêu em," tôi nói khi đưa cho cô ấy tiền.

"Anh luôn nói rằng anh yêu em," cô ấy nói.

"Bởi vì anh luôn yêu em."

"Anh là một gã khờ."

"Anh là một ông già lãng mạn."

"Quá già so với em."

"Anh biết anh quá già với em, nhưng anh có thể mơ."

"O.K.," cô ấy nói. "Em đồng ý là một phần trong giấc mơ của anh, nhưng em chỉ cầm tay anh dù chỉ trong mơ. Không hôn và không quan hệ. Kể cả khi anh mơ."

"O.K.," tôi nói. "Không quan hệ. Chỉ lãng mạn."

"Chào Jackson Jackson, tình yêu của em. Hẹn gặp lại anh."

Tôi rời cửa hàng, rảo bước tới công viên Phương Tây, ngồi ở ghế đá, rít lấy rít để điếu xì-gà.

Mười phút sau khi hút xong thuốc, tôi cào tấm vé đầu tiên và chả được gì cả. Tôi chỉ có thể thắng năm trăm đô, và số đó chỉ bằng một nửa chỗ tôi cần.

Sau đó mười phút, tôi cào tấm thứ hai và được một tấm vé miễn phí - một giải khuyến khích và một cơ hộ nữa để kiếm tiền.

Tôi quay lại chỗ Mary.

"Jackson Jackson," cô ấy nói, "Có phải anh quay lại để tán tỉnh em?"

"Anh được một vé miễn phí," tôi nói.

"Chỉ như những gã khác," cô ấy nói. "Anh yêu tiền và quyền lực hơn là anh yêu em."

"Điều đó đúng," tôi nói. "Và anh rất tiếc phải nói rằng điều đó đúng."

Cô ấy đưa cho tôi tấm vé khác và tôi đi ra. Tôi thích cào vé số một mình. Hi vọng và hơi buonf, tôi cào tấm vé thứ ba và đã được tiền thật. Tôi mang nó lại chỗ Mary.

"Anh thắng một trăm đô," tôi nói.

Cô ấy kiểm tra tấm vé và cười.

"Một gia tài," cô ấy nói, và đếm năm tờ hai mươi đô. Những ngón tay chạm nhau khi cô ấy đưa tiền. Tôi thấy như bị giật điện và lặng đi.

"Cảm ơn em," tôi nói, và đưa cho cô ấy một tờ.

"Em không thể nhận được," cô ấy nói. "Đó là tiền của anh."

"Không, đó là tục lệ. Đó là tục lệ của người da đỏ. Khi ta thắng, ta nên chia sẻ với gia đình của mình."

"Em không phải gia đình của anh."

"Không. Chính em."

Cô ấy cười và nhận tiền. Với tám mươi đô trong túi, tôi chào Mary yêu quý và đi ra ngoài dưới trời đêm lạnh giá.

9 giờ tối

Khá cô đơn đối với người da đỏ, tôi cầm tám mươi đô đi tới Tim To ở khu thương mại phía Nam. Tim To là một quán bar dành cho người da đỏ. Không ai biết bằng cách nào và tại sao người da đỏ tập trung tại một quán bar và biến nó thành quán bar dành cho dân da đỏ. Nhưng Tim To đã là một quán của người da đỏ đã hai mươi ba năm. Trước đây nó ở đại lộ Aurora, nhưng một người da đỏ Lummi bị khùng đã đốt, và những người chủ đã dời nó tới địa điểm mới, cách vài tòa nhà ở phía nam Cánh Đồng Safeco.

Tôi vào Tim To và đếm được mười năm người da đỏ - tám đàn ông và bảy phụ nữ. Tôi không biết ai trong số bọn họ, nhưng người da đỏ thích gặp gỡ, vì thế chúng tôi coi nhau như những người anh em họ hàng.

"Bao nhiêu một phát whiskey?" tôi hỏi gã chủ quán, một gã béo da trắng.

"Anh muốn loại tồi hay loại tồi hơn?"

"Tồi nhất mà ông có."

"Một đô một phát."

Tôi quẳng tám mươi đô lên bàn.

"Được thôi," tôi nói. Tôi và những anh em ở đây sẽ uống tám mươi phát. Mỗi người được bao nhiêu nhỉ?"

"Kể cả anh," người phụ nữ phía sau tôi nói, "năm phát cho tất cả mọi người."

Tôi quay lại nhìn cô ta. Cô ta là một phụ nữ da đỏ mũm mĩm với nước da bánh mật, ngồi cùng với một gã da đỏ khác cao và gầy nhẳng.

"Tốt, thiên tài toán học," tôi nói với cô ta, và sau đó nói to để toàn quán bar nghe thấy. "Năm cốc cho tất cả mọi người!"

Tất cả những người da đỏ khác quay lại quầy, nhưng tôi thì quay ra ngồi với nhà toán học và người bạn gầy nhẳng của cô ta. Chúng tôi vừa nói chuyện vừa uống rượu whiskey.

"Cô thuộc bộ lạc nào?" tôi hỏi.

"Tôi là người Duwamish," cô ta hỏi. "Còn cậu ta là người Con Quạ."

"Cậu ở xa Montana nhỉ," tôi nói với anh ta.

"Tôi là người Crow," anh ta nói. "Tôi bay tới đây."

"Các bạn tên gì?" tôi hỏi họ.

"Tôi là Irene Nàng Thơ," cô ta nói. "Và đây là Anh Chàng Ngọt Ngào."

Cô ta bắt tay tôi khá mạnh, nhưng anh ta thì đưa tay ra như thể là tôi định hôn nó. Vì vậy tôi hôn. Anh ta cười lí nhí và đỏ mặt, đỏ nhất mà người thuộc bộ lạc Con Quạ da đậm có thể.

"Cậu là người lưỡng tính phải không?" tôi hỏi anh ta.

"Tôi yêu phụ nữ," anh ta nói. "Và tôi yêu đàn ông nữa."

"Đôi khi cả hai cùng lúc," Irene nói.

Chúng tôi cùng cười.

"Đàn ông á?" tôi nói với Anh Chàng Ngọt Ngào. "Vậy anh hẳn phải có tới tám hoặc chín vía đấy nhỉ?"

"Thật ngọt ngào," anh ta nói. "Tôi là bất cứ thứ gì cậu muốn."

"Ôi không," Irene nói. "Anh Chàng Ngọt Ngào đang yêu."

"Chả có gì mang tên tình yêu ở đây cả," anh ta nói.

Chúng tôi lại cười.

"Wow," tôi nói. "Tôi đang được tâng bốc đây, Chàng Trai Ngọt Ngào, nhưng tôi không thuộc nhóm của cậu."

"Đừng bao giờ nói không bao giờ," tôi nói.

"Anh nên cẩn thận," Irene nói, "Chàng Trai Ngọt Ngào có đủ loại ma thuật đấy."

"Chàng trai ngọt ngào," tôi nói, "cậu có thể cố quyến rũ tôi, nhưng trái tim tôi đã thuộc về một người phụ nữ tên Mary."

"Mary còn trinh chứ?" Chàng Trai Ngọt Ngào hỏi.

Chúng tôi lại cười.

Và chúng tôi đã uống hết rượu. Nhưng những người da đỏ khác đã mua thêm whiskey, bởi tôi đã rất hào phóng. Và Chàng Trai Ngọt Ngào lôi ra một tấm thẻ tín dụng, tôi đã uống và "bơi" trên "con thuyền nhựa" đó.


Uống hết một tá, tôi mời Irene nhảy. Cô ấy từ chối. Nhưng Chàng Trai Ngọt Ngào lê tới cái máy hát, cầm một đống đĩa, và chọn "Giúp tôi làm điều đó qua đêm nay" của Willie Nelson. Trong lúc Irene và tôi ngồi và cười và uống thêm thì Chàng Trai Ngọt Ngào nhảy vòng quay chúng tôi và hát theo Willie.

"Cậu đang cưa tớ đấy à?" tôi hỏi anh ta.

Anh ta vẫn hát và nhảy.

"Cậu ấy đang đặt bùa anh đấy," Irene nói.

Tôi nằm ườn ra bàn, uống thêm một ít, và hôn Irene. Cô ta cũng hôn tôi.

10 giờ tối

Irene đẩy tôi vào nhà vệ sinh nữ, ngồi trên bệt, đóng cửa lại, và luồn tay vào quần tôi. Cô ấy thấp, vì vậy tôi phải cúi xuống hôn cô ta. Tôi sờ soạng khắp người cô ấy, và cô ấy mũm mĩm tuyệt vời, toàn thân cô ấy giống như một bộ ngực lớn, mềm, và ấm áp.

Nửa đêm

Gần như bị mù vì rượu, tôi đứng một mình ở quầy và thề rằng tôi mới chỉ ở trong nhà vệ sinh với Irene một phút trước.

"Một cốc nữa!" tôi quát tên chủ quán.

"Anh hết tiền rồi!" lão ta quát lại.

"Ai đó mua cho tôi một cốc!" tôi gào lên.

"Họ không còn tiền đâu!"

"Irene và Chàng Trai Ngọt Ngào đâu rồi?"

"Đi lâu rồi!"

2 giờ sáng

"Tới giờ đóng cửa rồi!" chủ quán quát ba hoặc bốn người da đỏ vẫn đang còn uống sau một ngày say sưa. Tửu lượng của người da đỏ giống như một tay chạy nước rút hoặc một người chạy ma-ra-tông.

"Irene và Chàng Trai Ngọt Ngào đâu rồi?" tôi hỏi.

"Họ đi mấy tiếng rồi," chủ quán bảo.

"Họ đi đâu?"

"Tôi nói bao nhiêu lần rồi, tôi không biết."

"Tôi làm gì bây giờ?"

"Tới giờ đóng cửa rồi. Tao không cần biết mày đi đâu, nhưng tốt nhất mày không nên ở lại đây."

"Đồ con hoang vô ơn. Tao đã đối xử tốt với mày."

"Nếu mày không biến đi, tôi sẽ đá đít mày."

"Nào, lại đây, tao biết đánh nhau đấy."

Hắn tới chỗ tôi. Và tôi không nhớ điều gì đã xảy ra sau đó.

4 giờ sáng

Tôi đứng dậy trong bóng đêm và thấy mình đang lang than sau một kho hàng. Tôi không biết mình đang ở đâu nữa. Mặt tôi đau buốt. Tôi thấy mũi mình hình như bị dập. Mệt mỏi và lạnh, tôi kéo lấy một tấm vải dầu từ sàn một chiếc xe tải, cuốn lên mình như một người yêu dấu, và ngủ trên nền đất bẩn thỉu.

yourdalink
28-02-2008, 11:12 PM
6 giờ sáng

Ai đó đá lườn tôi. Tôi mở mắt và ngước lên nhìn thấy một tay cớm da trắng.

"Jackson," tên cớm gọi. "Phải cậu không?"

"Cán bộ Williams," tôi nói. Ông ta là một tay cớm tốt suốt ngày ăn kẹo. Ông ta đã cho tôi hàng trăm thanh kẹo ngọt suốt mấy năm vừa rồi. Tôi tự hỏi có phải ông ta biết tôi bị tiểu đường.

"Anh làm gì ở đây thế này?" ông ta hỏi.

"Tôi lạnh và buồn ngủ, tôi nói. "Thế nên tôi nằm đây."

"Thật ngu xuẩn, anh đang nằm trên đường ray."

Tôi ngồi dậy và nhìn quanh. Tôi đang ngồi trên đường tàu. Những tay cửu vạn đang chằm chằm nhìn tôi. Suýt nữa tôi đã thành bánh pizza đường tàu, một chiếc xúc xích bò của người da đỏ với nhiều phó-mát. Loạng choạng đầy sợ hãi, tôi trườn đi và nôn ra đầy whiskey.

"Anh làm sao vậy?" Cán bộ Williams nói. "Anh chưa bao giờ ngớ ngẩn thế này."

"Bà tôi," tôi nói. "Bà đã chết."

"Tôi rất tiếc, chàng trai. Bà anh mất khi nào?"

"Mười chín năm trước vào tuổi bảy hai".

"Và bây giờ anh tự tử?"

"Tôi luôn tìm cách tự tử từ khi bà chết."

Ông ta lắc đầu. Ông ta buồn cho tôi. Như đã nói, ông ta là một tay cớm tốt bụng.

"Ai đã đánh anh vậy," ông ta nói. "Anh còn nhớ là ai không?"

"Ông Grief và tôi đánh lộn một chút."

"Có vẻ như Grief đã hạ nốc ao?"

"Grief luôn thắng."

"Nào," ông ấy nói. "Để tôi kéo anh dậy."

Ông giúp tôi đứng dậy và đưa tôi tới chỗ xe cảnh sát. Nhét tôi vào ghế sau. "Anh đã nôn ra và ăn hết rồi đấy," ông ta nói.

"Công bằng thôi."

Ông ta vòng lên và ngồi vào ghế lái. "Tôi đưa anh tới chỗ cai rượu nhé?" ông ta nói.

"Không, cán bộ, chỗ đó thật kinh khủng," tôi nói. "Toàn những tay da đỏ say xỉn."

Chúng tôi cùng cười. Ông ấy lái xe đi ngang qua những tay cửu vạn.

"Tôi không hiểu làm thế nào mà những gã như anh có thể như thế," ông ta nói.

"Những gã nào cơ?" tôi hỏi.

"Anh - những người da đỏ. Cái khỉ gì làm bọn anh cười suốt thế? Anh vừa mới nhấc mông ra khỏi đường ray, và bây giờ thì anh pha trò. Tại sao anh lại như thế?"

"Hai nhóm người vui tính nhất mà tôi từng gặp là người da đỏ và người do thái; tôi đoán ta có thể nói gì đó về sự hài hước cố hữu của tội diệt chủng."

Chúng tôi cùng cười.

"Nghe này Jackson. Anh thật thông minh. Điều chết tiệt gì đẩy anh ra đường vậy?"

"Cho tôi một ngàn đô và tôi sẽ kể với ông."

"Tôi cá là tôi sẽ đưa anh một ngàn đô nếu tôi biết anh sẽ làm lại cuộc đời."

Ông ta chắc chắn sẽ làm như thế. Ông ấy là tay cớm tốt thứ hai mà tôi từng biết.

"Ông là một tên cớm tốt," tôi nói.

"Nào Jackson," ông ta nói. "Đừng có tâng bốc tôi thế chứ."

"Không, thật đấy, ông làm tôi nhớ lại ông tôi."

"A, đó là điều những người da đỏ các anh luôn nói với tôi."

"Không, ông bạn ạ, ông tôi là cớm của bộ lạc. Ông ấy là một cớm tốt. Ông chưa từng bắt ai cả. Ông quan tâm và chăm sóc mọi người. Giống như ông vậy."

"Tôi đã bắt hàng trăm tên ma cà bông, Jackson ạ. Và tôi đã bắn vào mông hai thằng."

"Chả sao cả. Ông không phải là kẻ giết người."

"Tôi không giết họ. Tôi chỉ bắn vào mông. Tôi là kẻ gết mông."

Chúng tôi đi tới khu mua sắm. Những hiên nhà và những căn nhà hộp đã giải phóng những kẻ qua đêm. Những người vô gia cư ngái ngủ đứng trên các góc phố và nhìn lên bầu trời xám xịt. Đó là một buổi sáng sau một đêm mệt mỏi.

"Ông đã bao giờ sợ chưa?" tôi nói với cán bộ Williams.

"Anh có ý gì?"

"Ý của tôi, là một tay cớm, có sợ không?"

Ông ta nghĩ một hồi. Ông ta đang suy ngẫm. Tôi rất thích lúc ông ta trầm tư.

"Tôi đoán là mình không nghĩ quá nhiều về sợ hãi," ông ta nói. "Nếu anh nghĩ về nỗi sợ, rồi anh sẽ sợ. Công việc phần lớn là nhàm chán. Chỉ đi và nhìn vào các góc tối, anh biết đấy, và nhìn và chả thấy gì cả. Nhưng rồi mọi thứ nặng nề hơn. Ta đuổi theo ai đó, hoặc đánh nhau với họ hoặc đi quanh một ngôi nhà tối tăm, và ta chỉ biết có một kẻ điên khùng nào đó đang ẩn nấp đâu đây, và chết tiệt, vâng, đáng sợ."

"Ông tôi bị giết khi đang làm nhiệm vụ," tôi nói.

"Tôi rất lấy làm tiếc. Việc đó xảy ra như thế nào?"

Tôi biết ông ấy đang chăm chú nghe câu chuyện của tôi.

"Ông làm tại một khu dành riêng cho người da đỏ. Mọi người đều biết nhau. Rất an toàn. Chúng tôi không như những người Sioux hay Apache nổi loạn hay bất cứ bộ lạc hiếu chiến nào khác. Chỉ có ba vụ giết người trong suốt một trăm năm qua."

"Thật yên bình."

"Vâng, những người Spokane chúng tôi, chúng tôi khá thụ động, ông biết đấy. Chúng tôi chỉ dùng lời. Và chúng tôi sẽ nguyền rủa người khác. Nhưng chúng tôi không bắn người khác. Hay đâm họ. Dù sao thì, không gì hơn.

"Nhưng điều gì xảy ra với ông ấy?"

"Kẻ đó và bạn gái hắn đang đáy nhau ở khu Dòng Thác Nhỏ."

"Xung đột gia đình. Đó là điều tệ nhất."

"Vâng, nhưng gã đó là anh trai của ông tôi."

"Ồ, không."

"Vâng, thật kinh khủng. Ông tôi chỉ vừa vào trong nhà. Ông đã vào đó cả ngàn lần. Và anh trai ông và bạn của ông ấy say xỉn và đang đánh nhau. Ông tôi nhảy vào giữa hai người, ông đã làm thế cả trăm lần. Và bà ta bị trượt chân hay gì đó tương tự. Bà ta ngã xuống và bị đập đầu vào đâu đó và bắt đầu khóc. Và ông tôi cúi xuống xem bà ta có sao không. Ma xui quỷ khiến thế nào ông anh của ông tôi cúi xuống, rút khẩu súng của ông tôi và bắn vào đầu ông.

"Thật kinh khủng. Tôi rất tiếc."

"Vâng. Ông ấy không bao giờ hiểu tại sao lại như vậy. Ông ấy bị án trung thân, và ông ấy luôn viết những lá thư dài. Như là 50 mảnh giấy viết tay nhỏ. Và ông luôn cố tìm hiểu xem tại sao lại như vậy. Ông ấy viết và viết và viết và cố gắng để tìm hiểu. Ông chưa bao giờ hiểu được. Đó là một bí ẩn lớn.

"Còn nhớ ông anh chứ?"

"Một chút thôi. Tôi nhớ đám tang. Bà đã không cho mọi người chôn ông. Bố tôi đã phải kéo bà ra khỏi ngôi mộ."

"Tôi không biết phải nói gì."

"Tôi cũng vậy."

Chúng tôi dừng tại khu cai rượu.

"Chúng ta đến rồi," cán bộ Williams nói.

"Tôi không thể vào trong đó," tôi nói.

"Anh phải vào."

"Xin đừng. Họ sẽ giữ tôi hai tư giờ. Như vậy sẽ quá muộn."

"Quá muộn để làm gì?"

Tôi kể với ông chuyện bộ lễ phục của bà và kỳ hạn để mua lại.

"Nếu bị mất, anh phải điền vào tờ đơn," ông ta nói. "Tôi sẽ tự điều tra. Nếu cái đó là của bà anh, tôi sẽ đòi lại cho anh. Một cách hợp pháp."

"Không được," tôi nói. "Như vậy không công bằng. Ông chủ hiệu không biết đó là đồ ăn cắp. Và hơn nữa, tôi đang thực hiện nhiệm vụ. Tôi muốn trở thành anh hùng, ông hiểu chứ? Tôi muốn tự tay đoạt lại nó, như một hiệp sĩ."

"Một chuyện lãng mạn đây."

"Có thể. Nhưng tôi quan tâm tới chuyện đó. Đã lâu lắm rồi tôi mới thật sự quan tâm tới gì đó."

Cán bộ Williams quay lại và nhìn chằm chằm vào mặt tôi. Ông ta đang quan sát tôi.

"Tôi sẽ đưa anh một ít tiền," ông ta nói. "Tôi không có nhiều. Chỉ ba mươi đô. Tôi kẹt cho tới kỳ lương. Và chỗ này không đủ để mua lại bộ lễ phục. Nhưng nó là một phần."

"Tôi sẽ cầm," tôi nói.

"Tôi đưa cho anh bởi tôi tin vào điều anh tin. Tôi hi vọng, và tôi không biết tại sao tôi lại hi vọng vào điều này, nhưng tôi hi vọng biết đâu anh sẽ biến ba mươi đô này thành một ngàn đô."

"Tôi tin vào phép màu."

"Tôi tin là anh sẽ lấy tiền của tôi và say sưa."

"Vậy tại sao ông lại đưa tôi tiền?"

"Không có một thứ gì là tay cớm vô thần."

"Chắc rồi."

"Đúng thế. Tôi không phải là tay cớm vô thần."

Ông ta cho tôi ra khỏi xe, đưa tôi hai tờ năm đô và một tờ hai mươi, rồi bắt tay tôi.

"Cẩn trọng nhé, Jackson," ông nói. "Tránh xa đường tàu."

"Tôi sẽ cố."

Ông ta lái xe đi mất. Tiền trong tay, tôi đi về phía bến cảng.

8 giờ sáng

Ở cầu tàu, những người Aleut vẫn đang ngồi đợi trên chiếc ghế gỗ.

"Các anh thấy tàu chưa?" tôi nói.

"Nhìn thấy rất nhiều tàu," người Aleut lớn tuổi nói, "Nhưng không phải tàu của chúng tôi."

Tôi ngồi cùng với họ. Chúng tôi im lặng một hồi lâu. Tôi tự hỏi liệu chúng ta có bị hóa thạch nếu ngồi đủ lâu không.

Tôi nghĩ về bà tôi. Tôi chưa từng thấy bà nhảy với bộ lễ phục. Và, hơn tất cả, tôi ước gì được nhìn thấy bà nhảy trong lễ tế.

"Các anh có biết bài hát nào không?" tôi hỏi những người Aleut.

"Tôi biết tất cả bài của Hank Williams," người Aleut lớn tuổi nói.

"Thế những bài của người da đỏ thì sao?"

"Hank Williams là người da đỏ."

"Những bài thánh thần thì sao?"

"Hank Williams là một vị thánh."

"Tôi đang nói tới những bài tế lễ. Các anh biết đấy, những bài tôn giáo. Những bài ta hát khi ta đang hi vọng và mong ước."

"Anh hi vọng và mong ước cái gì?"

"Tôi ước gì bà tôi vẫn còn sống."

"Tất cả những bài tôi biết đều nói về điều đó."

"Ừm, hát cho tôi nghe càng nhiều càng tốt."

Những người Aleut hát những bài hát hay và lạ của họ. Tôi lắng nghe. Họ hát về bà tôi và về bà của họ. Họ đang cô độc trong tuyết lạnh. Tôi cô độc ở bất cứ đâu.

10 giờ sáng

Sau khi những người Aleut hát bài cuối cùng, chúng tôi ngồi yên lặng một hồi. Những người da đỏ rất giỏi yên lặng.

"Đó là bài cuối à?" tôi hỏi.

"Chúng tôi đã hát những bài chúng tôi biết," người lớn tuổi nói. "Những bài khác chỉ dành cho người của chúng tôi."

Tôi hiểu. Những người da đỏ chúng tôi phải giữ bí mật của mình. Và những người Aleut này rất bí hiểm nên họ không cho mình là người da đỏ.

"Các anh đói không?" tôi hỏi.

Họ nhìn nhau một lúc và trao đổi qua ánh mắt.

"Chúng tôi có thể ăn," người lớn tuổi nói.

11 giờ sáng

Những người Aleut và tôi đi tới Nhà Bếp Lớn, một bữa béo ngậy ở Quận Quốc Tế. Tôi biết họ luôn phục vụ những tay da đỏ vô gia cư tự nhiên vớ được tiền.

"Bốn suất ăn sáng?" cô hầu bàn hỏi khi chúng tôi bước vào.

"Vâng, chúng tôi rất đói," người Aleut lớn tuổi nói.

Cô ta đưa tôi tới một bàn gần bếp. Tôi ngửi thấy mùi thức ăn đang nấu. Dạ dày tôi quặn lên.

"Các anh tính tiền riêng chứ?" cô hầu bàn hỏi.

"Không, tôi trả," tôi nói.

"Anh là người hào phóng à?" cô ta nói.

"Đừng hỏi như vậy," tôi nói.

"Làm gì cơ?" cô ta hỏi.

"Đừng hỏi tôi những câu hỏi tu từ. Chúng là tôi sợ."

Cô ta có vẻ khó hiểu, rồi cô ấy cười.

"O.K. giáo sư," cô ta nói. "Từ nay tôi chỉ hỏi anh những câu hỏi thật sự thôi."

"Cảm ơn."

"Các anh định ăn gì?"

"Đó là câu hỏi tốt nhất mà chúng ta có thể hỏi người khác," tôi nói. "Cô có gì?"

"Anh có bao nhiêu tiền?" cô ta hỏi.

"Lại một câu hỏi tốt nữa," tôi nói. "Tôi có hai nhăm đô có thể tiêu. Mang bữa sáng cho chúng tôi, cộng cả tiền boa của cô."

Cô ấy biết toán học.

"Được rồi, có bốn suất cho các anh và bốn cà phê và mười lăm cent cho tôi."

Những người Aleut và tôi ngồi im. Một lát sau, cô hầu bàn trở lại và rót cho chúng tôi bốn tách cà phê, chúng tôi uống tới khi cô ta quay lại, với bốn đĩa thức ăn. Trứng, thịt lợn xông khói, bánh mì nướng, khoai tây băm. Thật ngạc nhiên với số thức ăn ta có thể mua với chừng đó tiền.

Thật tuyệt vời, chúng tôi no nê.

Trưa

Tôi tạm biệt những người Aleut và đi tới hiệu cầm đồ. Sau này tôi thấy người ta bảo rằng những người Aleut lội xuống biển gần Bến Tàu 47 và biến mất. Một số người da đỏ thề rằng họ đã xuống nước và bơi về phía Bắc. Những người khác nói rằng mấy người Aleut đã chết đuối. Tôi không biết điều gì đã xảy ra với họ.

Tôi đi tìm hiệu cầm đồ song không nhớ nó ở đâu cả. Tôi thề rằng nó không còn ở chỗ trước đây. Tôi đi quanh hai mươi tới ba mươi khu để tìm hiệu cầm đồ, rẽ rồi đi cắt qua các ngã tư, tìm tên nó trong niên giám điện thoại và hỏi những người qua đường. Nhưng hiệu cầm đồ có vẻ như đã biến mất như những con tàu ma. Tôi muốn khóc. Và khi tôi vừa định từ bỏ, khi tôi rẽ ở góc đường cuối cùng và nghĩ rằng tôi sẽ chết nếu không tìm thấy nó, ở nơi mà vài phút trước tôi thề rằng nó không thể ở đó.

Tôi bước vào trong và chào tay chủ hiệu, trông có vẻ trẻ hơn hôm qua.

"Là anh à," ông ta nói.

"Vâng, tôi đây," tôi nói.

"Jackson Jackson."

"Đó là tên tôi."

"Bạn đâu rồi?"

"Họ đi rồi. Bình thường thôi. Người da đỏ ở khắp nơi."

"Có tiền chưa?"

"Bây giờ ông cần bao nhiêu?" tôi hỏi, và hi vọng giá đã thay đổi.

"Chín trăm chín mươi chín đô la."

Vẫn giá đó. Tất nhiên rồi, vẫn là giá đó. Tại sao nó phải thay đổi chứ?

"Tôi không có từng đó," tôi nói.

" có bao nhiêu?"

"Năm đô."

Tôi để tờ giấy bạc có hình Lincoln trên bàn thu ngân. Ông chủ hiệu quan sát nó.

"Có phải năm đô hôm qua không?"

"Không, tờ khác đấy."

Ông ta suy nghĩ một lát.

" đã cố gắng để có chỗ này chứ?" ông ta hỏi.

"Đúng vậy," tôi nói.

Ông ta nhắm mắt lại và nghĩ rất căng. Sau đó ông ta vào phòng trong và trở lại với bộ lễ phục của bà tôi.

"Cầm đi," ông ta nói rồi đưa nó cho tôi.

"Tôi không có tiền."

"Tôi không cần tiền của anh."

"Nhưng tôi muốn thắng lại nó."

"Anh đã thắng rồi. Bây giờ cầm lấy trước khi tôi thay đổi quyết định.

Quý vị độc giả có biết có bao nhiêu người tốt trên thế gian này? Quá nhiều để có thể đếm.

Tôi cầm lấy bộ lễ phục của bà và bước ra ngoài. Tôi biết rằng đường khâu màu vàng đó là một phần của tôi. Tôi biết rằng tôi là một phần của đường khâu đó. Tôi cuốn bộ lễ phục quanh mình và ngửi mùi bà. Tôi bước khỏi vỉa hè và tới một ngã tư. Khách bộ hành dừng lại. Xe dừng lại. Cả thành phố dừng lại. Tất cả bọn họ đang nhìn tôi nhảy với bà. Tôi là bà tôi, đang nhảy...

yourdalink
28-02-2008, 11:44 PM
Vài cái note nhân một ngày chăm chỉ đột xuất :D

1. Là một thành phố phía đông Washington với khoảng 198,000 dân.

2. Một trong hai tiểu nhóm của nhóm tiếng Salish. Nhóm còn lại là Salish duyên hải. Được coi là những người da đỏ đầu tiên có ngôn ngữ.

3. Nguyên văn: “worked various blue- and bluer-collar jobs: công việc cổ xanh đối lập với cổ cồn, tức là những công việc chân tay. Còn xanh hơn nữa tức là những công việc còn vất vả, tầm thường hơn những công việc lao động thông thường.

4. Plains Indian: Những người da đỏ sống ở những đồng bằng và trung du vùng đồng bắng Lớn Bắc Mỹ.

5. Ở đây tác giả dùng “if you’re measuring over-all effect” ý muốn nói tới chuyện một người trông sẽ cao hơn nếu tổng thể của người đó toát lên vẻ “hoành tráng” :D

6. Một bộ lạc da đỏ ở sườn đông dãy núi Cascade thuộc bang Washinton, Hoa Kỳ.

7. Một nhóm bộ lạc da đỏ sống ở vùng phía đông bang Washinton. Mọi người có thể truy cập vào website của bộ lạc tại [Only registered and activated users can see links] để có thêm thông tin.

yourdalink
16-08-2008, 10:18 PM
Có bác nào muốn đăng lại truyện này không? Dạo này khủng hoảng kinh tế quá :((