PDA

View Full Version : [Hệ Tiếng Trung] Phong tục đón Tết Nguyên Đán của Trung Quốc


naibambih2
13-01-2009, 06:27 PM
Tết Âm lịch (Tết Nguyên đán Xuân tiết) có từ lâu đời ở Trung Quốc, với nhiều truyền thuyết lý thú và tập tục muôn màu muôn vẻ
[Only registered and activated users can see links]
Từ “nguyên đán” xuất hiện sớm nhất trong Nhã lạc ca đời Lương thời Nam triều: “Tứ khí tân Nguyên đán''. ''Nguyên'' có nghĩa là thứ nhất hoặc bắt đầu, ''đán” là sáng sớm: hai chữ “nguyên đán” có nghĩa là bắt đầu một năm mới. Nhưng thời điểm bắt đầu từ ngày tháng nào trong năm thì các triều đại TQ có sự lựa chọn khác nhau. Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, đời Hạ chọn ngày 1 tháng giêng là ngày đầu năm; đời Thương chọn ngày 1 tháng chạp; đời Chu lấy ngày 1-11; còn đời Tần chọn ngày 1-10; đời Hán Vũ Đế (Tây Hán) khôi phục lại ngày 1 tháng giêng cho đến nay. Sau Cách mạng Tân Hợi (năm 1911), TQ lấy ngày 1-1 dương lịch là Nguyên đán, ngày 1 tháng giêng gọi là Tết xuân (Xuân tiết). Trong Luật niên kỷ công nguyên của TQ tháng 9-1949 cũng khẳng định lại điều này.

Trong xã hội thượng cổ, ở TQ có tập tục lạp tế, tức tế chung các thần vào tháng chạp và tháng chạp gọi là lạp nguyệt, chủ yếu cúng Thần Hoa màu và Thần Thu hoạch, như Thần Nông. Thần Cầm thú...

Về nguồn gốc Tết âm lịch, trong dân gian TQ lưu truyền một chuyện thần thoại khá thú vị: Thời thượng cổ, có một quái vật tên là Niên (năm), hung mãnh phi thường. Vào mùa đông, rừng núi phủ đầy tuyết trắng, Niên khó tìm ra thức ăn nên đêm đêm, xuống núi săn lùng người, súc vật khiến mọi người vô cùng sợ hãi. Nhược điểm của Niên là sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng vang nên mọi nhà đều chuẩn bị những tấm gỗ đào treo lên, đốt lửa trước cửa và tìm các thanh cây gõ lên tiếng vang khi Niên xuống, làm Niên kinh hoàng, bỏ chạy một mạch lên núi. Đến sáng, mọi người vui vẻ chúc tụng nhau, làm thịt gà, dê ăn mừng, gọi là mừng “qua Niên”, tức mừng đã đuổi được quái vật. Sau đó từ “qua Niên” trở thành “qua năm” hay “sang năm”.

“Qua năm” là chỉ đêm giao thừa, cái đêm vượt qua hai năm, là thời điểm giao tiếp năm cũ và năm mới. Nhưng hoạt động Tết thì có khoảng thời gian liên tục từ cuối năm cũ sang đầu năm mới. Cuối năm cũ gọi là “cửa năm”, đầu năm mới thì gọi là “năm mới”. Đó là khoảng thời gian từ 25 tháng chạp đến rằm tháng giêng (Nguyên tiêu). Bước qua ranh giới của “cửa năm” cho đến giao thừa, nhà nhà đều bận rộn chuẩn bị Tết, trong đó có việc quan trọng là tiễn đưa Táo Thần.

Ở TQ, tập tục tiễn đưa Táo Thần có từ rất sớm. Từ đời Chu (cách nay gần 3.000 năm), lễ cúng Táo Thần vào đầu tháng 4 âm lịch được xem là một trong 5 lễ cúng quan trọng trong năm, về sau Hán Tuyên Đế đổi thành mồng 8 tháng chạp, đến đời Tống đổi thành 24 tháng chạp và truyền lại đến nay. Đầu đời Tần có quan niệm Táo Thần chỉ lo việc bếp núc, nhưng từ đời Hán thì cho rằng Táo Thần là thiên thần do thượng đế phái xuống nhân gian để điều tra công và tội của con người.

Ngày 24 tháng chạp mọi nhà đều làm vệ sinh, cúng Táo Thần với nghi lễ đơn giản, người chủ nữ trong gia đình dâng thanh trà, hoa quả, đốt nến thắp nhang cầu khấn là được. Lễ tiễn Táo Thần đồng thời cũng là lễ bước vào ''cửa năm'' (25 tháng chạp). Người Phúc Kiến, Giang Tây lấy ngày 25 tháng chạp làm ngày tiễn Táo Thần, có thể họ nghĩ ngày 24 có chữ “tứ” gần âm với chữ “tử” (chết) nên họ tránh, cũng có thể do ngày 25 là ngày bước vào “cửa năm”, tiễn Táo Thần có ý nghĩa hơn. Về giới tính, dân ở vùng Phúc Kiến, Giang Tây cho Táo là nữ thần, gọi Táo Quân Lão mẫu hoặc Táo Quân Thái thái. Đời Hán đã có cuộc tranh luận sôi nổi về giới tính của Táo Thần. Theo Thái Bình Ngũ Lãm trích từ Ngũ Kinh dĩ nghĩa, Trịnh Huyền cho Táo Thần là “lão phụ” (tức một người đàn bà). Theo Hứa Thận (nhà ngôn ngữ nổi tiếng đời Đông Hán) thì: “Táo Thần họ Tô tên Cát Lợi, phu nhân của Táo Thần họ Vương tên Bác Giáp''. Từ đó về sau, hình tượng Táo Thần là người đàn ông. Nhưng người vùng Ninh Hóa và một số vùng khác thì vẫn tôn thờ nữ thần, có thể do họ chịu ảnh hưởng của Trịnh Huyền hoặc cho Táo Thần chuyên lo việc bếp núc, điều tra tội nhỏ, là việc của nữ giới.

Khi đã qua “cửa năm”, người TQ không làm những việc nặng nhọc, không ăn dưa chua, không ăn cháo để tránh rủi ro, hy vọng năm mới sẽ gặp điều may mắn. Giao thừa (trừ tịch) cũng gọi là trừ nhật, trừ dạ, tuế trừ, tuế mộ, mộ trừ... (mộ là cuối). Giao thừa là đêm cuối cùng giao tiếp giữa 2 năm. Ngày 30 Tết là ngày cuối năm, người TQ làm những việc quan trọng là "thượng hồng'', dán Môn Thần (thần cửa), cúng tổ tiên, làm cơm tất niên, đón giao thừa... ''Thượng hồng'' là dán câu đối Tết và dán giấy đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho cát tường (vận may), thịnh vượng. Do vậy, ngày 30 Tết, các đồ dùng to nhỏ trong nhà (như cày bừa, giường, bàn ghế, nồi nấu cơm...) đều được dán giấy đỏ.

Dán câu đối Tết có từ thời Ngũ đại (năm 907-960). Câu đối “Tân niên nạp dư khánh, gia tiết hiệu trường xuân” của Tân Dần Tốn được xem là câu đối xuất hiện sớm nhất ở TQ và tập tục dán Thần gác cửa (Môn Thần) cũng có từ lâu đời. Về 2 chữ “Môn Thần”, trong Lệ ký- Táng phục đại ký, Trịnh Huyền có ghi: ''Theo truyền thuyết, thời Hoàng đế, Thần Đồ và Uất Lũy có tài bắt được ma quỷ, do đó người ta vẽ hình của hai vị thần này dán hai bên cửa để ngăn cản hung quỷ”.

Có một truyền thuyết khác: Ở đời Đường, hai vị tướng tài Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức đã lập nhiều công trạng. Có một lần Đường Thái Tông Lý Thế Dân tinh thần bấn loạn, đêm nằm nghe tiếng kêu của ma quỷ và tiếng ném gạch ngói bên ngoài cung điện. Việc này làm cho hoàng cung trở nên bất ổn, vua lo sợ đưa việc này nói với quần thần. Nghe xong, Tần Thúc Bảo liền tâu với vua xin được cùng tướng quân Uất Trì Kính Đức đưa quân ra canh gác trước cung môn để đuổi ma quỷ, được vua chuẩn tấu.

Hai vị tướng đưa quân canh gác suốt đêm, quả nhiên mọi việc bình an vô sự. Sau đó, để hai vị tướng đỡ phần vất vả, người ta vẽ hình họ dán hai bên cung môn, nhìn sinh động như người thật, thế là ma quỷ bị đuổi sạch, không còn dấu vết. Từ đó về sau, hai vị tướng này được tôn là Môn Thần. Đến đời Minh, Môn Thần còn có thêm Thần Tài.

Cúng Thần Thổ Địa cũng là một việc hệ trọng. Thần Thổ Địa còn được gọi Xã quan tục gọi Xã Công. Các gia đình TQ đều rất sùng bái Thần Thổ Địa. Theo Lễ ký Giao đặc tư thì Thần Thổ Địa là chủ đất đai, chủ loài cây tắc (chúa của các loại cốc) và ngũ cốc... Các huyện, thành đều xây miếu thờ Thần Thổ Địa; ở xã có xã đàn; các thôn có khám thờ thường đặt ở cửa thôn. Trong dân gian, mọi người đều cho Thần Thổ Địa là vị thần hiền từ, hãy giúp người, bảo hộ hương thổ. Trong năm, ngoài việc cúng Thần Thổ Địa vào mùa Xuân và mùa thu, mọi nhà khi có dịp hỷ khánh đều hiếu kính Thần Thổ Địa. Khi làm thịt lợn, họ cắt một miếng thịt thủ và cái đuôi lợn luộc chín cùng hoa giấy đưa đến xã đàn dâng lên Thần Thổ Địa cầu khấn cho lục súc (lợn, câu, dê, ngựa, gà, chó) được khỏe, lớn nhanh và sinh sôi nảy nở. Tết đến càng không thể quên Thần Thổ Địa. Theo tập tục thì 30 Tết nhà nào cũng làm thịt gà, thịt vịt. Họ thường đến làm thịt gà ở trước xã đàn (dĩ nhiên địa phương có quy định giữ vệ sinh trật tự chung). Khi gà đã luộc chín thì dâng lên cúng Thần Thổ Địa. Do vậy, mỗi năm đến 30 Tết, xã đàn hương khói nghi ngút, mọi nhà, mọi người đều đến tạ ơn Thần Thổ Địa.

Cúng tổ tiên là việc hệ trọng trong ngày Tết. Người TQ cúng tổ tiên thường dâng “tam sinh”, tức thịt gà, thịt lợn và cá; hai món đầu nhất thiết phải có và luộc chín; ngoài ra còn bánh tét, đậu hũ, hoa quả... Mỗi loại thực phẩm đều dán giấy đỏ. Sau khi thắp nến, đốt nhang, phải quỳ lạy, cầu khấn.

Đón giao thừa, người TQ thắp 3 ngọn đèn bằng loại dầu đặc biệt gọi là “điểm tuế hỏa”, một đặt ở nhà thờ chung, một ở cửa gọi là “thiên đăng” và một ở bàn thờ Táo Thần; những ngọn đèn này cũng gọi là “quang niên”, biểu thị sự sáng sủa trong năm.

Sang năm mới chủ yếu là vui chơi, nhưng ngày 3 tháng giêng là ngày “Tống quỷ đói", Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng vì quá nghèo đói nên người vợ phải làm nàng hầu cho một người đàn ông giàu có. Người vợ (họ Lý) thường lén chu cấp tiền cho chồng. Một dịp trước Tết, Lý cho chồng một chiếc bánh có nhồi mấy lạng bạc, nhưng quên nói với chồng. Anh chồng trở về nhà phải qua đò không có tiền trả bèn đưa chiếc bánh kho anh lái đò. Về đến nhà không có tiền ăn Tết, anh lại đến xin vợ. Sau khi nghe chồng kể lể sự tình, Lý nói trong bánh có bạc và tức giận mắng chồng: "Đồ quỷ đói đáng chết''. Sợ bị lộ Lý liền tạm rời khỏi nhà, ngờ đâu lúc đó anh chồng cũng trốn vào đống củi của nhà giàu và sau một đêm thì chết vì đói rét. Để tránh tai tiếng, ngày mồng 3 Tết, Lý đốt đống củi và đổ tro xuống sông. Mọi người hỏi, Lý nói: "Tống quỷ đói''. Từ đó, ngày 3 tháng giêng nhà nhà đều dọn vệ sinh, tống rác rưởi trong nhà ra ngoài, đốt nhang đốt giấy, ý nói: “Nghèo đi giàu đến”!

Ngày 5 tháng giêng mọi nhà đều đón Táo Thần giáng thế. Nhang khói vẫn duy trì liên tục từ giao thừa cho đến ngày đó và cúng Táo Thần từ sáng sớm, xong gỡ các loại giấy treo ngoài cửa đem đốt. Hết Tết, nhưng vui chơi, thăm bè bạn thì vẫn tiếp tục cho đến ngày rằm tháng giêng. Người TQ có câu tục ngữ: “Uống xong ly rượu Nguyên tiêu là lúc khởi đầu bắt tay vào công việc”.

(KTNN)
Chúc các bạn Khoa tiếng Trung có một cái tết thật vui vẻ
p/s Yan ơi cho tớ ti toe tí nhá ;)) đang máu tết lắm ồi, :yo37::yo103::yo103::yo103:

yan
13-01-2009, 06:36 PM
Đang định làm nhưng bị bạn hẫng tay trên :)) Cảm ơn bạn đã đóng góp cho box tiếng Trung nhé.