PDA

View Full Version : Nền kinh tế Việt Nam


xiansheng
23-11-2008, 09:59 PM
[Only registered and activated users can see links]
Bản đồ Việt Nam
A. Vài nét về Việt Nam:
Vị trí địa lý: Nằm ở phía đông trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, đông và đông nam giáp Biển Đông và Thái Bình Dương, phía bắc giáp với Trung Quốc, phía tây giáp Lào và tây nam giáp Campuchia.
Diện tích: 331.690 km2
Dân số: 83.535.576 người (tính đến 2005)
Ngôn ngữ: Tiếng Việt
Đơn vị tiền tệ: Đồng (VND)
[Only registered and activated users can see links]

B. Nền kinh tế Việt Nam:
Kinh tế Việt Nam thời gian trước vốn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đông dân và chậm phát triển, đã từng phải trải qua những cuộc chiến tranh liên tiếp kéo dài. Kể từ năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, xóa bỏ bao cấp và từng bước chuyển dịch sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị
[Only registered and activated users can see links]

Tăng trưởng GDP: Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997. Năm 1998, tăng trưởng GDP giảm xuống 4% do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, sau đó lại tăng lên đến 4,8% năm 1999. Trong những năm 2000-2003, tăng trưởng GDP tăng từ 6% đến 7% trong khi tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái. Năm 2004, mức tăng GDP là 7,7% và năm 2005 là 8,4%, trong đó khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11% và khu vực dịch vụ tăng 8%. Nền kinh tế Việt Nam đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách rõ rệt, khu vực nông nghiệp đã giảm từ 21,7% năm 2004 xuống 19% năm 2005 trong khi khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng từ 40,1% năm 2004 lên 41% và khu vực dịch vụ tăng từ 38,2% lên 39%.

Sông Cửu Long
Đầu tư: Từ năm 2000, tổng vốn đầu tư liên tục tăng theo các năm và đặc biệt đạt mức tăng cao trong năm 2005, với khoảng 18 - 19 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2004 và tương đương 36,5% GDP. Cơ cấu huy động vốn đầu tư gồm vốn từ ngân sách nhà nước và có nguồn gốc ngân sách chiếm khoảng 21,8% tổng vốn đầu tư xã hội, vốn tín dụng nhà nước chiếm khoảng 10,2%, tổng đầu tư của các doanh nghiệp quốc doanh chiếm 19,8%, vốn đầu tư của khu vực tư nhân chiếm 28,8% và còn lại là vốn đầu tư nước ngoài.
Việc làm: Năm 2005 có 1,6 triệu việc làm mới được tạo ra, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng thu hút trên 448.000 nhân công, đưa tổng số lao động trong khu vực này lên 10,9 triệu, khu vực nông lâm ngư nghiệp tạo mới 104.000 việc làm và khu vực dịch vụ là 748.000
[Only registered and activated users can see links]

Ruộng lúa ở An Giang
Thương mại: Năm 2005, xuất khẩu đạt 32,23 tỉ USD, tăng 21,6 % so với 2004 và giá trị nhập khẩu là 36,88 tỉ USD, tăng 15,4% so với 2004. Thâm hụt thương mại là 4,65 tỉ USD (giảm hơn so với mức thâm hụt 5,45 tỷ USD năm 2004).
Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm dầu thô (23%), hàng dệt may (15%), giày dép (9,3%), hải sản (8,5%), thiết bị điện tử (4,5%), gạo (4,3%), cao su (2,4%), cà phê (2,2%). Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm: máy móc, thiết bị (14,2%), xăng dầu (13,5%), thép (8%), vải (6,5%), nguyên phụ liệu dệt may da (6,3%), điện tử máy tính (4,6%), phân bón (1,8%).
Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam gồm có Hoa Kỳ (20%), Nhật Bản (14%), Trung Quốc (9%), Australia (7%), Singapore (5%), Đài Bắc thuộc Trung Quốc (4%), Đức (4%), Anh (4%), Pháp (2%), Hà Lan (2%), và các nước khác (29%). Thị trường nhập khẩu chính là Trung Quốc (13,7%), Đài Bắc thuộc Trung Quốc (11,3%), Hàn Quốc (10,8%), Nhật Bản (10,5%), Singapore (10,5%), Thái Lan (6,2%), Hồng Kong (4%).

Giàn khoan dầu mỏ Bạch Hổ (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Cán cân thanh toán: Mặc dù thâm hụt thương mại, nhưng tài khoản vốn lại đạt mức thặng dư cao và giải ngân đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 2 tỷ USD năm 2005. Do đó, cán cân thanh toán ước đạt một mức thặng dư khoảng 1 tỷ USD năm 2005.
Nợ nước ngoài: Tính đến cuối năm 2005, tổng nợ nước ngoài là 16,7 tỷ USD tương đương 35,5% GDP, cao hơn năm 2004 là 10,4%. Bộ Tài chính dự kiến năm 2006 là 34%. Nợ nước ngoài của Chính phủ ổn định theo xu hướng giảm dần các khoản nợ mới trong khi nợ thương mại của khu vực doanh nghiệp tăng lên. Năm 2005, việc trả nợ chiếm 5,5% xuất khầu; trả nợ của Chính phủ chiếm 9,1% tổng ngân sách năm 2005.
Tỷ giá hối đoái: Trong bốn tháng đầu năm 2005, VND chỉ mất giá 0,2% so với USD. Trong tương lai gần, tiền VND dự tính sẽ chỉ mất giá khoảng 2% so với USD do cán cân thanh toán của Việt Nam tiếp tục thặng dư; lãi suất gửi tiền VND ở thị trường trong nước luôn cao hơn lãi suất gửi USD; chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng giảm và USD tiếp tục giảm sức mạnh so với các ngoại tệ khác do mức tăng thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại của Hoa Kỳ.

Mỏ than Hà Tu (Quảng Ninh)
Chính sách tiền tệ và lạm phát: Trong năm 2005, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi, chú ý đến việc điều tiết mức tăng giá cả và hỗ trợ sự phát triển kinh tế. Tỷ lệ lãi suất năm 2005 tăng nhẹ mặc dù lạm phát giảm. Chính sách tiền tệ năm 2005 góp phần quan trọng vào việc bình ổn lạm phát ở tầm vĩ mô và thúc đẩy phát triển kinh tế. Tỷ giá hối đoái ổn định và mức tăng lãi suất tiền VND giúp cho Ngân hàng Nhà nước mua được ngoại tệ làm tăng lượng dự trữ ngoại hối và do đó giúp ổn định thị trường tỷ giá hối đoái. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2005 ước tính tăng khoảng 6,5%.
Triển vọng trung hạn: Nhiệm vụ chính mà các nhà lãnh đạo Việt Nam đặt ra trong năm năm tới là tiếp tục đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, giảm dần tình trạng kém phát triển và từng bước đạt mục tiêu thiên niên kỷ toàn cầu. Đến năm 2010, Việt Nam quyết tâm tăng GDP gấp 2,1 lần so với năm 2000, tạo thêm 8 triệu việc làm mới và giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực đô thị xuống dưới 5%, đẩy mạnh giáo dục để nâng số lượng lao động có trình độ lên 40% tổng lực lượng lao động và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15-16%.
Để thực hiện được kế hoạch phát triển kinh tế, Việt Nam đang hành một loạt các cải cách cơ cấu kinh tế và các biện pháp để phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, công nghiệp và dịch vụ:yo129:

xiansheng
23-11-2008, 10:01 PM
Thưa các bác. Các bác đa phần là học ngành kinh tế vậy tại sao chung ta lại không tìm hiểu về nền kinh tế nước nhà và tìm cách góp một phần nhỏ bé để thúc đẩy nền kinh tế nước nhà.Các bác tham khảo nhé

xiansheng
23-11-2008, 10:03 PM
I. Phải thay đổi quan điểm về lạm phát


Tại sao cần bình luận về lạm phát khi đã có nhiều người nói về nó. Có hai lý do. Lý do thứ nhất, cực kỳ quan trọng nhưng lại ít được nói tới, là ảnh hưởng của lạm phát tới sự ổn định và công bằng xã hội. Lý do thứ hai là cần làm sáng tỏ thêm nguyên nhân gây ra lạm phát. Chỉ có thế may ra mới trừ khử được lạm phát trong tương lai.




Nếu tính từ năm 2004 đến nay, tức là trong vòng 4 năm, lạm phát đã là 35,3% và trong vòng 2 năm nay, lạm phát là 15,5% (chỉ tính tới tháng 7 năm 2007). Như vậy là thu nhập của 22 triệu người lao động ăn lương đã mất đi sức mua cùng một tỷ lệ như trên vì lạm phát. Khi lạm phát càng cao, để bảo vệ mình, người lao động sẽ tích cực đòi tăng lương, kể cả đình công. Thí dụ trong 3 tháng đầu năm 2006, có 193 cuộc đình công, cao hơn 119 cuộc đình công cả năm 2003. Việc tăng lương không do tăng năng suất lại tạo ra vòng xoáy tăng giá.




Khi lạm phát cao, dân chúng phải tự bảo vệ mình bằng nhiều cách. Chẳng hạn năm nay, giá đã tăng 8,3% mà lãi suất bỏ ngân hàng chỉ có 3,9% một năm thì rồi ai cũng thấy dại bỏ tiền vào ngân hàng. Có thể họ sẽ mua vàng. So với năm 2005 thì giá vàng đã tăng 53%, lợi hơn nhiều so với 16,5% lãi ngân hàng nếu tính dựa vào lãi suất hiện nay. Còn người giầu, chắc là họ sẽ vơ vét mua bất động sản. Chỉ có người dân sống bằng đồng lương còm cõi và cố định là khốn khổ. Không lẽ thay vì khuyến khích để dành, tạo vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, nhà nước lại muốn người dân ký cóp tiền một cách vô dụng như thế.




Lạm phát cao như hiện nay cũng không giúp gì cho phát triển dài lâu, nhất là khi nó tạo ra thiếu vốn đầu tư, đầu cơ vàng bạc và thị trường nhà đất. Ngoài trừ một số công ty lớn có khả năng thay đổi giá bằng hợp đồng để tự bảo vệ mình, hầu hết là các nhà buôn bán vừa và nhỏ sẽ chịu chết vì giá tăng và dễ dàng phá sản. Lạm phát lớn mà lại đòi tốc độ phát triển cao thì chỉ là giấc mộng hão huyền. Cho rằng miễn là tốc độ phát triển cao hơn lạm phát là được ? Thì cứ cho là như vậy đi, nhưng ai là người trả giá cho lạm phát ? Phải chăng là những người lao động còm cõi, phải cố bươn chãi để có đủ tiền đóng học phí cho con, còn nhà nước thì cứ nằng nặc đòi “xã hội hoá” ?




Tôi rất đồng ý với các nhà kinh tế đã nhận định là ở bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào lạm phát có nguyên nhân in tiền nhiều quá. Tại sao lại in tiền nhiều ? Vì nhà nước chi nhiều hơn số thuế thu được. Nếu như nhà nước phát hành trái phiếu và bán cho dân để mượn tiền tiêu thì không có vấn đề. Vấn đề là nhà nước bắt ông Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu. Điều này có nghĩa là bắt NHNN in tiền. Tiền nhiều hơn hàng làm ra thì tất phải lạm phát. Thời chống lạm phát cuối những năm 1980, hầu hết mọi người trong chính phủ đều cho rằng phải tăng năng suất, phải tăng cung để giảm lạm phát. Tôi đã đặt cho các bạn ấy một câu hỏi. Thế khả năng tăng sản xuất thật một năm là bao nhiêu ? Cao nhất như Trung Quốc thì cũng chỉ 10-15% là cùng, nhưng các ông lại đang tăng tiền tới cả vài trăm phần trăm một năm. Các ông có tăng sản xuất nổi vài trăm phần trăm một năm không ?




Kinh nghiệm chống lạm phát ở Việt Nam không phải là zero, nhưng quan điểm cũ vẫn cứ tồn tại. Thí dụ quyết định của chính phủ (Chỉ thị 18/2007/CT-TTg), chỉ thị các bộ “ rà soát, bổ sung, sửa đổi ngay các thủ tục hành chính gây ách tắc trong việc giải ngân vốn cho các công trình xây dựng cơ bản, giảm thuế nhập khẩu hợp lý ; tính toán giảm giá bán xăng trong nước khi giá xăng trên thị trường thế giới giảm... lập nhóm công tác liên ngành hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp triển khai nhanh thủ tục cho các dự án, công trình xây dựng cơ bản...” Lại trở lại đúng luận điểm ngày xưa. Tăng cung để chống lạm phát. Không biết cái gì gây ách tắc, nhưng nếu chúng là những thủ tục xây dựng, đánh giá, kiểm tra dự án cần thiết, thì việc xoá bỏ để tăng cường mức đầu tư nhằm có tốc độ phát triển kinh tế cao và lạm phát thấp sẽ đưa chất lượng công trình về đâu ?




Lại còn vừa giảm thuế, vừa giảm giá. Giảm giá xăng tức là tăng chi bù lỗ. Giảm thuế tức là giảm thu ngân sách. Nghe nói chỉ việc giảm thuế đã làm thu ngân sách giảm 1 tỷ đô la. Nhà nước lấy tiền đâu để bù vào thiếu hụt ? In tiền ? Mượn nước ngoài ?